peterpan
11-20-2006, 02:31 AM
1.Tại sao màn hình LCD tốt hơn màn hình CRT thông thường?
Tương lai màn hình LCD sẽ thay thế cho CRT vì những lý do sau: có trọng lượng và kích thước nhỏ, tiêu thụ ít điện năng, có độ sáng cao, không gây hại mắt vì không có sự bức xạ điện từ, sử dụng giao tiếp số DVI cho chất lượng hình ảnh và độ nét cao… Nhưng vào thời điểm hiện nay, CRT vẫn chiếm ưu thế hơn vì LCD còn tồn tại một số nhược điểm: giá thành cao, độ phân giải và tần số làm tươi chỉ tối ưu ở một tần số nhất định, tần số đáp ứng chậm (loại có tần số đáp ứng nhanh dưới 16 ms thường giá khá cao), góc nhìn hẹp, các đường chéo thường bị răng cưa do LCD có điểm ảnh là hình vuông, màu sắc thể hiện chưa phong phú bằng CRT
2.Tại sao nên chọn mua màn hình hỗ trợ DVI? Khi mua màn hình LCD cần chú ý điều gì?
Nếu card màn hình có hỗ trợ ngõ ra tín hiệu số thì nên dùng màn hình có giao tiếp DVI để nhận được hình ảnh đẹp, mịn, trung thực.
Khi chọn màn hình LCD cần chú ý tới những điểm chết (chấm đen trên màn hình) vì đó là những vị trí không hiển thị được hình ảnh. Tuy nhiên một số nhà sản xuất cho phép LCD có từ 1 đến 3 điểm chết.
Nếu card màn hình có hỗ trợ ngõ ra tín hiệu số thì nên dùng màn hình có giao tiếp DVI để nhận được hình ảnh có chất lượng và độ nét cao... Khi chọn màn hình LCD cần chú ý tới những điểm chết vì đó là những điểm ảnh chỉ có khả năng hiển thị một màu nhất định, để nhận biết được những điểm chết này đơn giản ta chỉ việc để nền ảnh tối hoặc sáng. Tuy nhiên một số nhà sản xuất cho phép LCD có từ 1 đến 3 điểm chết.
Màn hình LCD (màn hình tinh thể lỏng) hoạt động ra sao?
Được sản xuất từ năm 1970, LCD (Liquid Crytal Display) là một loại vật chất phản xạ ánh sáng khi điện thế thay đổi. Nó hoạt động dựa trên nguyên tắc ánh sáng nền (Back Light). Nó bao gồm một lớp chất lỏng nằm giữa 2 lớp kiếng phân cực ánh sáng. Bình thường, khi không có điện áp, các tinh thể này được xếp thẳng hàng giữa hai lớp cho phép ánh sáng truyền qua theo hình xoắn ốc. Hai bộ lọc phân cực, 2 bộ lọc màu và 2 bộ cân chỉnh sẽ xác định cường độ ánh sáng đi qua và màu nào được tạo ra trên một pixel. Khi có điện áp cấp vào, lớp canh chỉnh sẽ tạo một vùng điện tích, canh chỉnh lại các tinh thể lỏng đó. Nó không cho phép ánh sáng đi qua để hiện thị lên hình ảnh tại vị trí điểm ảnh đó. Các điểm ảnh trong màn hình LCD là một transistor cực nhỏ ở 1 trong 2 chế độ: cho phép ánh sáng đi qua hoặc không. Điểm ảnh bao gồm 3 yếu tố màu: đỏ, xanh lá, xanh dương. Các màn hình LCD trước đây thường tiêu thụ điện năng nhiều, độ tương phản thấp cho đến khi các nhà khoa học người Anh tìm ra "Biphenyl" - vật liệu chính của tinh thể lỏng, thì LCD mới thực sự phổ biến. LCD xuất hiện đầu tiên trong các máy tính cầm tay, trò chơi điện tử cầm tay, đồng hồ điện tử, … LCD ngày nay được thiết kế nhỏ gọn, nhẹ, chiếm ít không gian, chất lượng hình ảnh tốt, tiêu thụ ít năng lượng và đang thay thế dần màn hình CRT truyền thống
Thế nào là thời gian đáp ứng (Response Time)? Thông số này được đánh giá thế nào là tốt?
Thời gian đáp ứng của màn hình LCD được tính bằng tổng thời gian một điểm ảnh (pixel) bắt đầu bật (hiển thị một màu) và sau đó trở về trạng thái tắt. Thời gian bật (rising time) nhanh hơn thời gian tắt (falling time). Các thông số này được thể hiện trên bao bì sản phẩm dưới dạng tổng thời gian đáp ứng. Ví dụ: một màn hình LCD có response time ghi trên bao bì là 25ms thường có nghĩa là 9ms (rising) + 16ms (falling). Các thông số này đôi lúc được thể hiện dưới dạng tr(rise time) và tf (fall time) tùy thuộc vào nhà sản xuất. Ví dụ: một màn hình có thông số tr = 4ms, tf = 12ms thì nó có thời gian đáp ứng tổng là 16ms. Nếu giá trị thời gian đáp ứng càng nhỏ thì các điểm ảnh trên LCD có thời gian thay đổi màu sắc càng nhanh, nó đồng nghĩa với việc hình ảnh được thể hiện lên màn hình một cách rõ ràng hơn khi chuyển động liên tục trong điều kiện hình ảnh thay đổi nhanh (nhiều khung hình/ giây).
3. Vì sao các đĩa mềm dễ hư hỏng?
Do bộ phận chính để lưu trữ dữ liệu trên đĩa mềm là một miếng nhựa tổng hợp tròn được phủ một lớp ôxít sắt, bộ phận này không có lớp bảo vệ trực tiếp nào mà chỉ được bảo vệ gián tiếp qua vỏ nhựa của đĩa. Vì vậy đĩa mềm dễ bị ảnh hưởng của các tác nhân bên ngoài như nhiệt độ, độ ẩm… Trong các trường hợp xấu (nhiệt độ hoặc độ ẩm của môi trường cao) thì đĩa mềm có thể bị hỏng
4. Tại sao không cho bề mặt của đĩa tiếp xúc với môi trường bên ngoài?
Trong không khí có rất nhiều hạt bụi li ti mà mắt thường khó có thể thấy được, khi những hạt bụi này tiếp xúc với bề mặt của đĩa, với tốc độ quay 7200 vòng/phút (đối với những máy cấu hình cao hoặc là máy server thì tốc độ này có thể lên đến 10.000 hay 15.000 vòng/phút) thì sẽ làm bề mặt của đĩa bị trầy sướt và đầu đọc/ghi không thể truy xuất được dữ liệu từ đĩa. Cho nên môi trường bên trong của HDD bắt buộc phài là môi trường chân không
5.Tại sao màn hình LCD tốt hơn màn hình CRT thông thường?
Tương lai màn hình LCD sẽ thay thế cho CRT vì những lý do sau: có trọng lượng và kích thước nhỏ, tiêu thụ ít điện năng, có độ sáng cao, không gây hại mắt vì không có sự bức xạ điện từ, sử dụng giao tiếp số DVI cho chất lượng hình ảnh và độ nét cao… Nhưng vào thời điểm hiện nay, CRT vẫn chiếm ưu thế hơn vì LCD còn tồn tại một số nhược điểm: giá thành cao, độ phân giải và tần số làm tươi chỉ tối ưu ở một tần số nhất định, tần số đáp ứng chậm (loại có tần số đáp ứng nhanh dưới 16 ms thường giá khá cao), góc nhìn hẹp, các đường chéo thường bị răng cưa do LCD có điểm ảnh là hình vuông, màu sắc thể hiện chưa phong phú bằng CRT
6. Tại sao phải quan tâm đến loại CPU khi chọn mua bo mạch chủ?
Như đã đề cập ở trên, loại CPU cùng kiến trúc Bus quyết định hoàn toàn một bo mạch chủ. Các CPU khác nhau cần được cắm trên các bo mạch chủ khác nhau. Chính vì vậy, bạn cần quan tâm đến việc nên chọn CPU nào trước khi tính đến chuyện chọn bo mạch chủ loại nào. Thị trường hiện có rất nhiều chủng loại CPU được sản xuất bởi nhiều nhà SX khác nhau. Nhưng có hai nhà SX CPU lớn nhất mà chúng ta đã biết là Intel và AMD. Tương ứng với các loại CPU từ hai nhà SX này sẽ có các bo mạch chủ dành riêng cho CPU AMD hoặc bo mạch chủ dành riêng cho Intel. Tùy vào nhu cầu và mục đích sử dụng, chúng ta cần chọn cho mình một CPU phù hợp. Từ đó, mới chọn một bo mạch chủ không quá thừa tính năng, nhưng vẫn đảm bảo cho việc nâng cấp trong tương lai gần .
Điều gì ảnh hưởng đến tốc độ của CPU?
Số lượng transistor hiện có, ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ của CPU. Như bạn thấy trước đây, BVXL Intel 8088 phải mất 15 chu kỳ nhịp đồng hồ mới thi hành được một chỉ lệnh điển hình. Nguyên nhân là do thiết kế bộ tính toán số nhân ở BVXL 8088, nó phải mất xấp xỉ 80 chu kỳ, chỉ để thực hiện một phép nhân 16 bit. Nhiều transistor hơn, các bộ tính toán số nhân mạnh hơn, khả năng xử lý lệnh trong 1 chu kỳ nhịp đồng hồ sẽ dần trở thành hiện thực.
Thêm nhiều transistor cho phép các nhà chế tạo áp dụng kỹ thuật Pipelining dễ dàng hơn. Trong một kiến trúc pipeline, các chỉ lệnh có thể được thi hành chồng vào nhau. Do đó, ngay cả khi phải mất 5 chù kỳ nhịp đồng hồ để thi hành mỗi một chỉ lệnh, thì có thể có thêm 5 chỉ lệnh ở các tầng khác được thi hành một cách đồng thời với nó. Như vậy, kết quả cuối cùng có thể xem như 1 chỉ lệnh đã được thi hành trong cùng 1 chu kỳ nhịp đồng hồ.
Nhiều CPU thế hệ mới có thêm nhiều bộ giải mã chỉ lệnh, mỗi cái sẽ có pipeline riêng cho nó. Điều này cho phép CPU xử lý được nhiều luồng chỉ lệnh đồng thời, dẫn đến trong mỗi 1 chu kỳ nhịp đồng hồ sẽ có nhiều hơn một chỉ lệnh được thi hành. Kỹ thuật này hơi phức tạp trong quá trình thực thi do đó nó đòi hỏi CPU phải cần nhiều transistor hơn
Xu hướng phát triển của CPU như thế nào?
Xu hướng trong thiết kế CPU chủ yếu hướng đến việc chế tạo các ALU 32-bit hoàn hảo, cùng với các bộ xử lý dấu chấm động gắn liền cực nhanh, bên cạnh khả năng thi hành pipeline với nhiều luồng chỉ lệnh. Bước tiến mới nhất trong việc thiết kế CPU là các ALU 64-bit. Theo dự đoán thì trong một thập niên tới, tất cả các máy tính gia đình của chúng ta đều sử dụng các CPU loại này. Ngoài ra, cũng có một khuynh hướng khác là hướng đến sử dụng các tập chỉ lệnh đặc biệt (như tập chỉ lệnh MMX chẳng hạn). Các tập chỉ lệnh này sẽ giúp công việc tính toán cụ thể đạt hiểu quả một cách đặc biệt. Xu hướng thiết kế mới còn bao gồm thêm việc hỗ trợ bộ nhớ ảo bằng phần cứng và đặt bộ nhớ đệm L1 ngay lên chip xử lý. Tất cả các xu hướng này đều làm gia tăng số lượng transistor dẫn đến việc ra đời các CPU chứa nhiều triệu transistor như ngày nay và các CPU loại này có thể thi hành khoảng 1 tỉ chỉ lệnh/s
Thế nào là Data Pipeline?
Tương tự như định nghĩa ống dẫn, ống dẫn dữ liệu trong thiết kế của BXL Pentium là loại ống dẫn có 5 tầng. Khi BXL Pentium Pro ra đời, ống dẫn có khả năng dự đoán trước nhánh rẽ và thu hồi, đã được nhân đôi lên 10 tầng. Ngày nay, độ sâu ống dẫn của BXL Pentium 4 lại được nhân đôi lên thành 20 tầng và được gọi là Vi Kiến Trúc NetBurst
7.Tại sao phải thiết lập bộ nhớ kênh đôi (dual-channel memory)?
Việc thiết lập bộ nhớ kênh đôi trước tiên phụ thuộc vào bo mạch chủ và CPU có hỗ trợ hay không. Nếu có, bạn phải cắm hai thanh nhớ cùng loại và cùng tốc độ theo hướng dẫn của nhà sản xuất bo mạch chủ để kích hoạt chế độ bộ nhớ kênh đôi cho hệ thống. Chúng ta thiết lập bộ nhớ kênh đôi nhằm tăng băng thông truyền dẫn dữ liệu giữa bộ nhớ đến các thành phần khác trong hệ thống. Ngoài ra, việc thiết lập bộ nhớ kênh đôi sẽ giúp hệ thống tránh được hiện tượng "thắt cổ chai" giữa bộ xử lý thế hệ mới và bộ nhớ hệ thống.
8. Tại sao Chuột quang được khuyến khích sử dụng hơn Chuột bi?
Chuột bi thường bị dính bụi, làm giảm độ nhạy, nên cần được vệ sinh định kỳ. Trong khi đó, Chuột quang do dùng công nghệ quang học nên bụi ít ảnh hưởng đến độ nhạy
9. Chữ X được ghi trên ổ đĩa CD-DVD (VD: 52X) có ý nghĩa gì ?
Ký tự X được ghi trên ổ đĩa CD-ROM là một con số biểu diễn đơn vị đo. Ví dụ trên ổ đĩa có ghi 52X: ký tự X là đại diện cho đơn vị đo tốc độ dữ liệu đọc được của ổ đĩa. 1X có giá trị là 150 Kbps (Kilobyte per second) số byte dữ liệu đọc được trên 1 giây. Vậy với một ổ đĩa 52X thì tốc độ đọc dữ liệu tối đa của ổ đĩa đó là 52 x 150 Kbps
Tốc độ ghi trên ổ đĩa DVD-ROM là 16x có phải ổ đĩa DVD- ROM chậm hơn ổ đĩa CD-ROM ?
Ta không thể so sánh tốc độ đọc giữa DVD và CD-ROM được vì ở tốc độ 1X DVD có tốc độ truyền dữ liệu là 1.385 Mbps so với 150 Kbps của CD-ROM
Ổ đĩa DVD có thể chạy các đĩa CD và CD-ROM cộng thêm một số đĩa phim Video CD đang có hiện nay, nhưng tính tương thích đang là một thách đố về kỹ thuật. Chùm tia laser được hội tụ rất mảnh của DVD sẽ khó khăn trong việc đọc dữ liệu được bố trí không dày khít lắm trên các định chuẩn CD hiện hành. Thực tế, các ổ DVD không chạy nhanh được các đĩa hiện có của bạn.
Các loại đĩa quang lưu dữ liệu như thế nào?
Bề mặt của các loại đĩa quang được cấu trúc thành các vòng tròn đồng tâm gọi là track với khoảng cách mỗi track là 1.6 mi-crô-mét. Thực tế dữ liệu được lưu trữ là các hốc (pit) rất nhỏ, trên bề mặt lớp bạc bao phủ đĩa. Hốc này gồm các vùng phản chiếu và các vùng không phản chiếu. Các vùng phản chiếu biểu thị cho giá trị 1 và các vùng không phản chiếu biểu thị cho giá trị 0 của hệ nhị phân. Khi đọc trên bề mặt đĩa, tia laser của mắt đọc trên các ổ đĩa CD-ROM chỉ nhận biết được các vùng phản chiếu và không phản chiếu trên đĩa rồi cho ra các tín hiệu 1–0 tương ứng
Dấu "+" và "-" (Ví dụ DVD-R và DVD+R) có nghĩa là gì?
Nó là hai chuẩn định dạng đĩa DVD có thể ghi được do nhóm các nhà sản xuất ổ ghi đĩa DVD đưa ra. DVD-R (gọi là DVD-gạch-R hay DVD-trừ-R) ra đời đầu tiên và có hai loại: DVD-R for General (G) và DVD-R for Authoring (A). DVD-R (G) phục vụ các nhu cầu rộng rãi và DVD-R (A) dành cho mục đích chuyên nghiệp. Ổ đĩa đọc DVD thông dụng có thể đọc hai định dạng này nhưng để ghi được chúng, bạn cần sử dụng ổ đĩa ghi hỗ trợ định dạng tương ứng. DVD-RW là định dạng đĩa DVD-R có thể ghi lại nhiều lần. DVD+R là phiên bản chỉ ghi được một lần của DVD+RW. Trước đây, hai định dạng DVD– và DVD+ xung khắc tới mức không thể chung sống hòa bình với nhau. Trên thị trường xuất hiện những ổ ghi hoặc theo định dạng DVD- hoặc theo DVD+, nhưng hiện nay ổ ghi DVD có thể ghi được cả hai định dạng DVD- và DVD+ gọi là Dual DVD DVD±RW
10.HDD lưu trữ dữ liệu như thế nào?
Những đĩa nhỏ (platter) nằm bên trong HDD được chia theo track và sector. Những vòng tròn đồng tâm được gọi là track, trên những track này sẽ được chia thành những phần nhỏ là sector. Một sector có thể chứa ít nhất 512 bytes dữ liệu. Dữ liệu sẽ tuần tự được lưu trên những sector, nếu như một sector đã đầy dữ liệu thì đầu đọc/ghi sẽ ghi dữ liệu lên sector còn trống khác, cứ thế cho đến sector cuối cùng của 1 track. Khi hết 1 track thì đầu đọc/ghi sẽ chuyển đến sector của track trống tiếp theo. Tiếp tục như thế cho đến track cuối cùng. Khi hết track cuối cùng của một mặt đĩa thì đầu đọc/ghi sẽ chuyển đến mặt khác của đĩa.
Như thế nào là FAT, FAT16, FAT32, NTFS?
Để hiểu rõ hơn về FAT16, FAT32, NTFS thì trước tiên ta cần đặt câu hỏi FAT là gì ? FAT là được viết tắt từ 3 ký tự đầu tiên của File Allocation Table (bảng phân phối tập tin) là bảng ghi địa chỉ track và sector của từng dữ liệu trên đĩa.
FAT16 (File Allocation Table, 16-bit): hổ trợ những hệ điều hành DOS, Windows 9x/Me. Với FAT này chỉ hổ trợ những tên tập tin có độ dài là 11 ký tự (8 ký tự dành cho tên tập tin và 3 ký tự dành cho phần mở rộng.) và hổ trợ những HDD hoặc những phân vùng (partition) có dung lượng tối đa là 2 GB.
FAT32 (File Allocation Table, 32-bit): hổ trợ những hệ điều hành Windows 9x/Me, Windows 2000/XP. Với FAT32 thì dung lượng của HDD hay phân vùng (partition) có dung lượng lên đến 2 terabytes.
NTFS (Windows NT File System): hổ trợ những hệ điều hành WindowsNT/2000/XP và chiều dài tên tập tin có thể là 256 ký tự. Với NTFS thì HDD hay phân vùng (partition) có dung lượng rất lớn, lên đến 16 exabytes.
11.Bo mạch chủ hoạt động như thế nào?
Bo mạch chủ đã được xem như một khái niệm mới khi máy tính cá nhân và máy tính nhỏ (Microcomputer) đang dần trở nên phổ biến. Trước khi có các mạch tích hợp, các thành phần riêng biệt của máy tính được lắp trên các bo mạch khác nhau hoặc các thành phần khác nhau được lắp trên nhiều bo mạch. Ngày nay, các thành phần ấy tập trung hoạt động trên cùng một bo mạch gọi là bo mạch chủ. Các nhà sản xuất bo mạch chủ cũng đạt được những bước tiến xa hơn trong việc tích hợp thêm nhiều bo mạch mở rộng thông dụng khác như đồ họa, âm thanh, mạng và các mạch điều khiển ổ đĩa,…
Bất kỳ một bo mạch chủ nào cũng đều được thiết kế để hỗ trợ các thành phần chính sau: bộ vi xử lý (BXL), bộ nhớ và các hệ thống vào/ra (I/O) và được chứa trong cùng một thùng máy. Hai yếu tố chính xác định một bo mạch chủ:
1/ Tốc độ và loại bộ vi xử lý.
2/ Kiến trúc Bus. Chính vì lẽ đó, bo mạch chủ đã và sẽ thay đổi tương ứng với mỗi lần nhà SX tung ra các BXL và kiến trúc Bus mới. Các BXL nhanh hơn sẽ cho tốc độ trình diễn tốt hơn bên cạnh các kiến trúc Bus mới sẽ gia tăng tốc độ truyền tải dữ liệu. Ở các máy tính cá nhân thế hệ đầu tiên, độ rộng của kiến trúc Bus là 8 bit và chỉ có thể truyền tải dữ liệu ở tốc độ 1 Mb/s nhưng kết quả của sự cải tiến và phát triển kiến trúc Bus đã cho thấy sự cải thiện tốc độ rõ rệt như tuyến ISA 16 bit cho tốc độ truyền tải lên 8 Mb/s, tuyến VESA 32 bit cung cấp tốc độ 150 Mb/s, tiếp theo là PCI 32 bit hoặc 64 bit hỗ trợ 264 Mb/s và tuyến AGP 64 bit mới hỗ trợ tốc độ truyền dữ liệu trên 528 Mb/s. Việc mở rộng kiến trúc bus kéo theo nhiều thay đổi và cải tiến nhưng luôn luôn mang tính tương thích ngược. Vì vậy một bo điều hợp được thiết kế cho các máy tính cá nhân IBM nguyên thủy vẫn có thể làm việc tốt trên các hệ thống Pentium mới. Thực chất của việc mở rộng kiến trúc bus là mở rộng tuyến nội của bộ vi xử lý và mở rộng các chip thêm vào để hỗ trợ việc truy cập bộ nhớ trực tiếp (DMA -Direct Memory Access), các ngắt (Interupts), các bộ đếm (Counters), bộ tính thời gian, các cầu nối và bộ đệm. BXL trên bo mạch chủ thế hệ mới được xem như là bộ phận quan trọng nhất và được lắp trên đế cắm (socket) thay vì hàn trực tiếp như trước đây. Các đế cắm được thiết kế cho phép cắm nhiều loại BXL có tốc độ khác nhau. Từ đó, người sử dụng có thể nâng cấp lên các BXL mạnh hơn. Khi lắp đặt BXL, bạn phải gắm nó vào đế cắm này nhưng lưu ý là lực ép cho phép rất nhỏ. BXL sẽ được khóa với một bẫy khóa, kẹp các chân của nó vào đế cắm. Ngoài ra, cũng có các bo mạch chủ cho phép lắp nhiều hơn một BXL. Thường các bo mạch chủ loại này được dùng trong các hệ thống máy tính trạm hoặc máy chủ cần đến năng lực xử lý lớn.
BXL giao tiếp với bộ nhớ hệ thống (DRAM-Dynamic Random Access Memory) qua một cầu nối. Tuy nhiên, tốc độ bộ nhớ hệ thống hiện tại vẫn chưa bắt kịp tốc độ của các BXL thế hệ mới. Trong khi đó, chiếc cầu nối lại bị ảnh hưởng đáng kể bởi thời gian trể, mạch ghép và tốc độ "làm tươi" của DRAM. Có một loại bộ nhớ nhỏ hơn gọi là bộ nhớ đệm (cache) được đặt giữa BXL và DRAM. Bộ nhớ đệm có tốc độ nhanh hơn rất nhiều so với bộ nhớ DRAM và trên các BXL thế hệ mới nó được đặt trên cùng một "bánh" silicon với BXL và có cùng tốc độ với tốc độ của BXL. Bộ nhớ đệm truyền thống được thiết kế sử dụng loại RAM tĩnh, được lắp trên các khối nhỏ và được quản lý bởi mạch điều khiển cache. Mạch điều khiển DRAM trên các bo mạch thế hệ mới nằm trên cùng một chip như mạch điều khiển cache. Mạch điều khiển cache nạp dữ liệu vào SRAM từ DRAM, do đó các dữ liệu và chỉ lệnh được truyền đến BXL với tốc độ cao nhất. Tuyến nội của BXL được nối đến các tuyến PCI và ISA bằng các chip cầu nối. Chip cầu nối bus PCI thay đổi thiết kế cùng với sự thay đổi của mỗi BXL. Cầu nối ISA bao gồm tất cả các thiết kế lõi dành cho tuyến 16 bit kiểu AT của các máy tính cá nhân IBM nguyên thủy, bao gồm mạch điều khiển DMA 8237, mạch điều khiển ngắt 8259, và các chíp đếm/tính thời gian 8254. Chíp này cho phép tương thích ngược với các giao tiếp và thiết bị mở rộng loại cũ.
Dynamic Random Access Memory – Ram động
Một loại chip nhớ truy cập ngẫu nhiên ( RAM), biểu hiện các trạng thái nhớ bằng những tụ tích trữ điện tích. Vì các tụ điện này thường xuyên bị mất điện tích của mình, cho nên các chip DRAM phải được "làm tươi" lại liên tục (vì vậy gọi là "động").
Ở các máy tính cá nhân đời đầu, cổng và thiết bị điều khiển bàn phím được kết hợp trên bo mạch chủ. Trong khi các thiết kế mới hiện nay cho phép cổng nối tiếp (Serial) được tích hợp ngay trên bo mạch chủ. Bàn phím sử dụng bộ điều hợp giao tiếp nối tiếp để truyền và nhận dữ liệu 1 bit tại một thời điểm, cho đến khi một khối dữ liệu hoặc 1 lệnh được truyền đi hết. Bàn phím và mạch điều khiển là loại đẳng thời nghĩa là dữ liệu và xung đồng hồ truyền, được đồng bộ hóa trên đường xung nối tiếp và trên các cạnh của tín hiệu đồng hồ. (Thiết bị điều hợp thiết lập một bit trên đường dữ liệu nối tiếp sau đó chuyển sang đường xung đồng hồ nối tiếp trên bộ điều hợp, mỗi lần đường cổng nối tiếp chuyển trạng thái, bàn phím sẽ hồi đáp bằng cách truyền dữ liệu đến bo mạch chủ). Bàn phím AT sử dụng đầu nối DIN 5-chân. Bàn phím PS/2 sử dụng bộ điều hợp DIN mini 6-chân. Cổng PS/2 được tìm thấy trên tất cả các bo mạch chủ kiểu ATX. Chip 8042 trên bo mạch chủ hỗ trợ một thiết bị phụ thứ hai, thường dùng nhất là chuột PS/2. Các tín hiệu giao tiếp dữ liệu và xung đồng hồ nối tiếp của bàn phím nối với chip 8042 sẽ lần lượt nối với tuyến 8 bit, tuyến ISA phụ hoặc tuyến X-nối với tuyến nội bằng cách sử dụng chip cầu nối PCI đến ISA (như đã đề cập phía trên). Bộ vi điều khiển 8042 gửi và nhận các lệnh, trạng thái và dữ liệu đến BXL bằng cách sử dụng các ngắt level 1 cho bàn phím và level 12 cho chuột PS/2. Bàn phím cũng có một mạch điều khiển nối với các tín hiệu dữ liệu và đồng hồ để giao tiếp với mạch điều khiển bàn phím.
ROM BIOS (Read Only Memory Basic Input Output System) là một thiết bị chứa phần mềm để nạp hệ điều hành cơ bản đầu tiên từ thiết bị khởi động và thực hiện các bước tự kiểm tra lúc bật máy (Power on self-Tests-POST). Các BIOS mới hỗ trợ thêm các tính năng như Cắm và Chạy (Plug and Play – PnP), ACPI (Advanced Configuration Peripheral Interface, USB (Universal Serial BUS), Software Power-Off (tắt máy bằng phần mềm) và cổng AGP (Accelerated Graphics Port).
Tất cả các bo mạch chủ từ thời máy tính cá nhân IBM đầu tiên đều có một đồng hồ thời gian thực (Real Time Clock-RTC) và một chíp tính Lịch (Calendar). Thiết bị này chứa một lượng nhỏ bộ nhớ không linh động. Ngay cả khi hệ thống tắt điện, các thiết bị này vẫn tiếp tục chạy, do được nuôi từ nguồn năng lượng Pin (cũng được lắp sẵn trên bo mạch chủ). Thiết bị RTC/Calendar cung cấp dữ liệu ngày và giờ cho HĐH và có độ chính xác tương đối. Chúng chứa dữ liệu cấu hình cơ bản trong bộ nhớ không linh động.
Nhưng nếu bạn ngắt kết nối Pin hoặc xảy ra tình trạng hết Pin, các thông tin cấu hình sẽ bị mất.
Các bo mạch chủ hiện nay hỗ trợ ngay trên bo 2 cổng Enhanced ATA (IDE). Chuẩn giao tiếp ổ đĩa này đã có một vài cải tiến cho phép hỗ trợ 4 ổ đĩa vật lý và tốc độ truyền dữ liệu cũng được gia tăng một cách đáng kể. Giới hạn sức chứa của đĩa cứng cũng tăng và việc hỗ trợ ổ CD-ROM thông qua chuẩn ATAPI (AT Attached Packet Interface) cũng được thêm vào. Nhiều tốc độ và chế độ truyền dữ liệu được phát triển như chuẩn truyền dữ liệu PIO (Programmed I/O) và single word hay multiword DMA. Chuẩn single word DMA truyền 16 bit dữ liệu trên một yêu cầu truyền DMA và chuẩn Multiword DMA truyền 16 bit dữ liệu liên tục trong khi khi tín hiệu DMA bật. Trên các bo mạch chủ mới, tất cả 4 kênh IDE đều có khả năng làm chủ tuyến (Bus mastering) và có thể thiết lập nhiều tùy chọn khởi động thay vì A: C: hoặc C: A:. Cùng với việc hỗ trợ IDE (Intelligent Drive Electronics), các bo mạch chủ thế hệ mới còn bao gồm hai cổng giao tiếp nối tiếp hỗ trợ giao tiếp truyền không đồng bộ tiêu chuẩn qua cổng giao tiếp RS 232C. Qua nhiều năm, cổng giao tiếp nối tiếp của PC được nâng cấp bằng một loạt các thiết bị UART (Universal Asynchronous Receiver Transmitter). Thiết bị NS16550 mới nhất cung cấp bộ đệm FIFO 16 Byte cho việc nhận và truyền dữ liệu và nó giới hạn nhu cầu của máy tính để phục vụ cho mỗi quá trình giao dịch dữ liệu bằng cách phục vụ (các ngắt) theo khối. Thiết bị hỗ trợ tốc độ truyền dữ liệu tối đa là 115 Kb/s. Gần như mỗi PC thế hệ mới được tích hợp sẵn các bộ điều hợp và các cổng song song. Các cổng này được biết đến dưới những cái tên như Parallel, LPT, PRN, IEEE 1284 và cổng máy in song song... Máy PC nguyên thủy hỗ trợ 1 cổng máy in 8 bit có tốc độ truyền tải là 150 Kb/s. Sau khi giao tiếp được cải tiến, nó được cho phép truyền dữ liệu trực tiếp 8 bit và cho phép kết nối với các thiết bị không phải máy in. Bên cạnh đó, cổng song song cũng được cải thiện hơn nữa với các chế độ truyền tải tốc độ cao cộng thêm và tăng cường thêm giao thức ghép nối cũng như hỗ trợ các vòng lệnh, vòng dữ liệu và đánh địa chỉ cho nhiều thiết bị luận lý.
Một thiết bị khác cũng được tích hợp trên bo mạch chủ là cổng hồng ngoại (Infrared Port). Tuy nhiên, thiết bị này thường chỉ được tích hợp sẵn trên các máy tính xách tay. Và khi hoạt động, nó sẽ chiếm tài nguyên của một cổng COM.
Bộ đệm nhỏ nằm ngay trên BXL được gọi là bộ đệm L1 và bộ đệm lớn hơn ở bên ngoài gọi là bộ đệm L2. Bộ đệm L1 nhận dữ liệu từ bộ đệm L2, còn bộ đệm L2 thì nhận dữ liệu từ bộ nhớ hệ thống (DRAM). Bộ đệm L2 thông thường có kích thước là 256 Kb. Việc gia tăng kích thước bộ đệm sẽ giảm hiệu quả khi kích thước vượt quá 1 MB.
Đầu kết nối nguồn ATX trên bo mạch chủ cung cấp kết nối dạng socket cho đầu nối 20-chân từ bộ nguồn ATX và hỗ trợ chuẩn ACPI. Có nhiều kiểu kết nối và chức năng mới sẽ làm việc với bộ nguồn ATX như Software Power-Off, Modem Ring Power-On và Alarm Wake Up.
Cuối cùng là các mạch giám sát phần cứng được tích hợp sẵn trên hầu hết các bo mạch chủ thế hệ mới. Các mạch giám sát này sẽ theo dõi nhiệt độ, điện áp và tốc độ quạt của hệ thống. Thông qua các tiện ích quản lý, bạn sẽ kiểm tra được tình trạng cũng như nhận được các cảnh báo khi có sự cố xảy ra nhờ sự hoạt động của các mạch giám sát này.
Tương lai màn hình LCD sẽ thay thế cho CRT vì những lý do sau: có trọng lượng và kích thước nhỏ, tiêu thụ ít điện năng, có độ sáng cao, không gây hại mắt vì không có sự bức xạ điện từ, sử dụng giao tiếp số DVI cho chất lượng hình ảnh và độ nét cao… Nhưng vào thời điểm hiện nay, CRT vẫn chiếm ưu thế hơn vì LCD còn tồn tại một số nhược điểm: giá thành cao, độ phân giải và tần số làm tươi chỉ tối ưu ở một tần số nhất định, tần số đáp ứng chậm (loại có tần số đáp ứng nhanh dưới 16 ms thường giá khá cao), góc nhìn hẹp, các đường chéo thường bị răng cưa do LCD có điểm ảnh là hình vuông, màu sắc thể hiện chưa phong phú bằng CRT
2.Tại sao nên chọn mua màn hình hỗ trợ DVI? Khi mua màn hình LCD cần chú ý điều gì?
Nếu card màn hình có hỗ trợ ngõ ra tín hiệu số thì nên dùng màn hình có giao tiếp DVI để nhận được hình ảnh đẹp, mịn, trung thực.
Khi chọn màn hình LCD cần chú ý tới những điểm chết (chấm đen trên màn hình) vì đó là những vị trí không hiển thị được hình ảnh. Tuy nhiên một số nhà sản xuất cho phép LCD có từ 1 đến 3 điểm chết.
Nếu card màn hình có hỗ trợ ngõ ra tín hiệu số thì nên dùng màn hình có giao tiếp DVI để nhận được hình ảnh có chất lượng và độ nét cao... Khi chọn màn hình LCD cần chú ý tới những điểm chết vì đó là những điểm ảnh chỉ có khả năng hiển thị một màu nhất định, để nhận biết được những điểm chết này đơn giản ta chỉ việc để nền ảnh tối hoặc sáng. Tuy nhiên một số nhà sản xuất cho phép LCD có từ 1 đến 3 điểm chết.
Màn hình LCD (màn hình tinh thể lỏng) hoạt động ra sao?
Được sản xuất từ năm 1970, LCD (Liquid Crytal Display) là một loại vật chất phản xạ ánh sáng khi điện thế thay đổi. Nó hoạt động dựa trên nguyên tắc ánh sáng nền (Back Light). Nó bao gồm một lớp chất lỏng nằm giữa 2 lớp kiếng phân cực ánh sáng. Bình thường, khi không có điện áp, các tinh thể này được xếp thẳng hàng giữa hai lớp cho phép ánh sáng truyền qua theo hình xoắn ốc. Hai bộ lọc phân cực, 2 bộ lọc màu và 2 bộ cân chỉnh sẽ xác định cường độ ánh sáng đi qua và màu nào được tạo ra trên một pixel. Khi có điện áp cấp vào, lớp canh chỉnh sẽ tạo một vùng điện tích, canh chỉnh lại các tinh thể lỏng đó. Nó không cho phép ánh sáng đi qua để hiện thị lên hình ảnh tại vị trí điểm ảnh đó. Các điểm ảnh trong màn hình LCD là một transistor cực nhỏ ở 1 trong 2 chế độ: cho phép ánh sáng đi qua hoặc không. Điểm ảnh bao gồm 3 yếu tố màu: đỏ, xanh lá, xanh dương. Các màn hình LCD trước đây thường tiêu thụ điện năng nhiều, độ tương phản thấp cho đến khi các nhà khoa học người Anh tìm ra "Biphenyl" - vật liệu chính của tinh thể lỏng, thì LCD mới thực sự phổ biến. LCD xuất hiện đầu tiên trong các máy tính cầm tay, trò chơi điện tử cầm tay, đồng hồ điện tử, … LCD ngày nay được thiết kế nhỏ gọn, nhẹ, chiếm ít không gian, chất lượng hình ảnh tốt, tiêu thụ ít năng lượng và đang thay thế dần màn hình CRT truyền thống
Thế nào là thời gian đáp ứng (Response Time)? Thông số này được đánh giá thế nào là tốt?
Thời gian đáp ứng của màn hình LCD được tính bằng tổng thời gian một điểm ảnh (pixel) bắt đầu bật (hiển thị một màu) và sau đó trở về trạng thái tắt. Thời gian bật (rising time) nhanh hơn thời gian tắt (falling time). Các thông số này được thể hiện trên bao bì sản phẩm dưới dạng tổng thời gian đáp ứng. Ví dụ: một màn hình LCD có response time ghi trên bao bì là 25ms thường có nghĩa là 9ms (rising) + 16ms (falling). Các thông số này đôi lúc được thể hiện dưới dạng tr(rise time) và tf (fall time) tùy thuộc vào nhà sản xuất. Ví dụ: một màn hình có thông số tr = 4ms, tf = 12ms thì nó có thời gian đáp ứng tổng là 16ms. Nếu giá trị thời gian đáp ứng càng nhỏ thì các điểm ảnh trên LCD có thời gian thay đổi màu sắc càng nhanh, nó đồng nghĩa với việc hình ảnh được thể hiện lên màn hình một cách rõ ràng hơn khi chuyển động liên tục trong điều kiện hình ảnh thay đổi nhanh (nhiều khung hình/ giây).
3. Vì sao các đĩa mềm dễ hư hỏng?
Do bộ phận chính để lưu trữ dữ liệu trên đĩa mềm là một miếng nhựa tổng hợp tròn được phủ một lớp ôxít sắt, bộ phận này không có lớp bảo vệ trực tiếp nào mà chỉ được bảo vệ gián tiếp qua vỏ nhựa của đĩa. Vì vậy đĩa mềm dễ bị ảnh hưởng của các tác nhân bên ngoài như nhiệt độ, độ ẩm… Trong các trường hợp xấu (nhiệt độ hoặc độ ẩm của môi trường cao) thì đĩa mềm có thể bị hỏng
4. Tại sao không cho bề mặt của đĩa tiếp xúc với môi trường bên ngoài?
Trong không khí có rất nhiều hạt bụi li ti mà mắt thường khó có thể thấy được, khi những hạt bụi này tiếp xúc với bề mặt của đĩa, với tốc độ quay 7200 vòng/phút (đối với những máy cấu hình cao hoặc là máy server thì tốc độ này có thể lên đến 10.000 hay 15.000 vòng/phút) thì sẽ làm bề mặt của đĩa bị trầy sướt và đầu đọc/ghi không thể truy xuất được dữ liệu từ đĩa. Cho nên môi trường bên trong của HDD bắt buộc phài là môi trường chân không
5.Tại sao màn hình LCD tốt hơn màn hình CRT thông thường?
Tương lai màn hình LCD sẽ thay thế cho CRT vì những lý do sau: có trọng lượng và kích thước nhỏ, tiêu thụ ít điện năng, có độ sáng cao, không gây hại mắt vì không có sự bức xạ điện từ, sử dụng giao tiếp số DVI cho chất lượng hình ảnh và độ nét cao… Nhưng vào thời điểm hiện nay, CRT vẫn chiếm ưu thế hơn vì LCD còn tồn tại một số nhược điểm: giá thành cao, độ phân giải và tần số làm tươi chỉ tối ưu ở một tần số nhất định, tần số đáp ứng chậm (loại có tần số đáp ứng nhanh dưới 16 ms thường giá khá cao), góc nhìn hẹp, các đường chéo thường bị răng cưa do LCD có điểm ảnh là hình vuông, màu sắc thể hiện chưa phong phú bằng CRT
6. Tại sao phải quan tâm đến loại CPU khi chọn mua bo mạch chủ?
Như đã đề cập ở trên, loại CPU cùng kiến trúc Bus quyết định hoàn toàn một bo mạch chủ. Các CPU khác nhau cần được cắm trên các bo mạch chủ khác nhau. Chính vì vậy, bạn cần quan tâm đến việc nên chọn CPU nào trước khi tính đến chuyện chọn bo mạch chủ loại nào. Thị trường hiện có rất nhiều chủng loại CPU được sản xuất bởi nhiều nhà SX khác nhau. Nhưng có hai nhà SX CPU lớn nhất mà chúng ta đã biết là Intel và AMD. Tương ứng với các loại CPU từ hai nhà SX này sẽ có các bo mạch chủ dành riêng cho CPU AMD hoặc bo mạch chủ dành riêng cho Intel. Tùy vào nhu cầu và mục đích sử dụng, chúng ta cần chọn cho mình một CPU phù hợp. Từ đó, mới chọn một bo mạch chủ không quá thừa tính năng, nhưng vẫn đảm bảo cho việc nâng cấp trong tương lai gần .
Điều gì ảnh hưởng đến tốc độ của CPU?
Số lượng transistor hiện có, ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ của CPU. Như bạn thấy trước đây, BVXL Intel 8088 phải mất 15 chu kỳ nhịp đồng hồ mới thi hành được một chỉ lệnh điển hình. Nguyên nhân là do thiết kế bộ tính toán số nhân ở BVXL 8088, nó phải mất xấp xỉ 80 chu kỳ, chỉ để thực hiện một phép nhân 16 bit. Nhiều transistor hơn, các bộ tính toán số nhân mạnh hơn, khả năng xử lý lệnh trong 1 chu kỳ nhịp đồng hồ sẽ dần trở thành hiện thực.
Thêm nhiều transistor cho phép các nhà chế tạo áp dụng kỹ thuật Pipelining dễ dàng hơn. Trong một kiến trúc pipeline, các chỉ lệnh có thể được thi hành chồng vào nhau. Do đó, ngay cả khi phải mất 5 chù kỳ nhịp đồng hồ để thi hành mỗi một chỉ lệnh, thì có thể có thêm 5 chỉ lệnh ở các tầng khác được thi hành một cách đồng thời với nó. Như vậy, kết quả cuối cùng có thể xem như 1 chỉ lệnh đã được thi hành trong cùng 1 chu kỳ nhịp đồng hồ.
Nhiều CPU thế hệ mới có thêm nhiều bộ giải mã chỉ lệnh, mỗi cái sẽ có pipeline riêng cho nó. Điều này cho phép CPU xử lý được nhiều luồng chỉ lệnh đồng thời, dẫn đến trong mỗi 1 chu kỳ nhịp đồng hồ sẽ có nhiều hơn một chỉ lệnh được thi hành. Kỹ thuật này hơi phức tạp trong quá trình thực thi do đó nó đòi hỏi CPU phải cần nhiều transistor hơn
Xu hướng phát triển của CPU như thế nào?
Xu hướng trong thiết kế CPU chủ yếu hướng đến việc chế tạo các ALU 32-bit hoàn hảo, cùng với các bộ xử lý dấu chấm động gắn liền cực nhanh, bên cạnh khả năng thi hành pipeline với nhiều luồng chỉ lệnh. Bước tiến mới nhất trong việc thiết kế CPU là các ALU 64-bit. Theo dự đoán thì trong một thập niên tới, tất cả các máy tính gia đình của chúng ta đều sử dụng các CPU loại này. Ngoài ra, cũng có một khuynh hướng khác là hướng đến sử dụng các tập chỉ lệnh đặc biệt (như tập chỉ lệnh MMX chẳng hạn). Các tập chỉ lệnh này sẽ giúp công việc tính toán cụ thể đạt hiểu quả một cách đặc biệt. Xu hướng thiết kế mới còn bao gồm thêm việc hỗ trợ bộ nhớ ảo bằng phần cứng và đặt bộ nhớ đệm L1 ngay lên chip xử lý. Tất cả các xu hướng này đều làm gia tăng số lượng transistor dẫn đến việc ra đời các CPU chứa nhiều triệu transistor như ngày nay và các CPU loại này có thể thi hành khoảng 1 tỉ chỉ lệnh/s
Thế nào là Data Pipeline?
Tương tự như định nghĩa ống dẫn, ống dẫn dữ liệu trong thiết kế của BXL Pentium là loại ống dẫn có 5 tầng. Khi BXL Pentium Pro ra đời, ống dẫn có khả năng dự đoán trước nhánh rẽ và thu hồi, đã được nhân đôi lên 10 tầng. Ngày nay, độ sâu ống dẫn của BXL Pentium 4 lại được nhân đôi lên thành 20 tầng và được gọi là Vi Kiến Trúc NetBurst
7.Tại sao phải thiết lập bộ nhớ kênh đôi (dual-channel memory)?
Việc thiết lập bộ nhớ kênh đôi trước tiên phụ thuộc vào bo mạch chủ và CPU có hỗ trợ hay không. Nếu có, bạn phải cắm hai thanh nhớ cùng loại và cùng tốc độ theo hướng dẫn của nhà sản xuất bo mạch chủ để kích hoạt chế độ bộ nhớ kênh đôi cho hệ thống. Chúng ta thiết lập bộ nhớ kênh đôi nhằm tăng băng thông truyền dẫn dữ liệu giữa bộ nhớ đến các thành phần khác trong hệ thống. Ngoài ra, việc thiết lập bộ nhớ kênh đôi sẽ giúp hệ thống tránh được hiện tượng "thắt cổ chai" giữa bộ xử lý thế hệ mới và bộ nhớ hệ thống.
8. Tại sao Chuột quang được khuyến khích sử dụng hơn Chuột bi?
Chuột bi thường bị dính bụi, làm giảm độ nhạy, nên cần được vệ sinh định kỳ. Trong khi đó, Chuột quang do dùng công nghệ quang học nên bụi ít ảnh hưởng đến độ nhạy
9. Chữ X được ghi trên ổ đĩa CD-DVD (VD: 52X) có ý nghĩa gì ?
Ký tự X được ghi trên ổ đĩa CD-ROM là một con số biểu diễn đơn vị đo. Ví dụ trên ổ đĩa có ghi 52X: ký tự X là đại diện cho đơn vị đo tốc độ dữ liệu đọc được của ổ đĩa. 1X có giá trị là 150 Kbps (Kilobyte per second) số byte dữ liệu đọc được trên 1 giây. Vậy với một ổ đĩa 52X thì tốc độ đọc dữ liệu tối đa của ổ đĩa đó là 52 x 150 Kbps
Tốc độ ghi trên ổ đĩa DVD-ROM là 16x có phải ổ đĩa DVD- ROM chậm hơn ổ đĩa CD-ROM ?
Ta không thể so sánh tốc độ đọc giữa DVD và CD-ROM được vì ở tốc độ 1X DVD có tốc độ truyền dữ liệu là 1.385 Mbps so với 150 Kbps của CD-ROM
Ổ đĩa DVD có thể chạy các đĩa CD và CD-ROM cộng thêm một số đĩa phim Video CD đang có hiện nay, nhưng tính tương thích đang là một thách đố về kỹ thuật. Chùm tia laser được hội tụ rất mảnh của DVD sẽ khó khăn trong việc đọc dữ liệu được bố trí không dày khít lắm trên các định chuẩn CD hiện hành. Thực tế, các ổ DVD không chạy nhanh được các đĩa hiện có của bạn.
Các loại đĩa quang lưu dữ liệu như thế nào?
Bề mặt của các loại đĩa quang được cấu trúc thành các vòng tròn đồng tâm gọi là track với khoảng cách mỗi track là 1.6 mi-crô-mét. Thực tế dữ liệu được lưu trữ là các hốc (pit) rất nhỏ, trên bề mặt lớp bạc bao phủ đĩa. Hốc này gồm các vùng phản chiếu và các vùng không phản chiếu. Các vùng phản chiếu biểu thị cho giá trị 1 và các vùng không phản chiếu biểu thị cho giá trị 0 của hệ nhị phân. Khi đọc trên bề mặt đĩa, tia laser của mắt đọc trên các ổ đĩa CD-ROM chỉ nhận biết được các vùng phản chiếu và không phản chiếu trên đĩa rồi cho ra các tín hiệu 1–0 tương ứng
Dấu "+" và "-" (Ví dụ DVD-R và DVD+R) có nghĩa là gì?
Nó là hai chuẩn định dạng đĩa DVD có thể ghi được do nhóm các nhà sản xuất ổ ghi đĩa DVD đưa ra. DVD-R (gọi là DVD-gạch-R hay DVD-trừ-R) ra đời đầu tiên và có hai loại: DVD-R for General (G) và DVD-R for Authoring (A). DVD-R (G) phục vụ các nhu cầu rộng rãi và DVD-R (A) dành cho mục đích chuyên nghiệp. Ổ đĩa đọc DVD thông dụng có thể đọc hai định dạng này nhưng để ghi được chúng, bạn cần sử dụng ổ đĩa ghi hỗ trợ định dạng tương ứng. DVD-RW là định dạng đĩa DVD-R có thể ghi lại nhiều lần. DVD+R là phiên bản chỉ ghi được một lần của DVD+RW. Trước đây, hai định dạng DVD– và DVD+ xung khắc tới mức không thể chung sống hòa bình với nhau. Trên thị trường xuất hiện những ổ ghi hoặc theo định dạng DVD- hoặc theo DVD+, nhưng hiện nay ổ ghi DVD có thể ghi được cả hai định dạng DVD- và DVD+ gọi là Dual DVD DVD±RW
10.HDD lưu trữ dữ liệu như thế nào?
Những đĩa nhỏ (platter) nằm bên trong HDD được chia theo track và sector. Những vòng tròn đồng tâm được gọi là track, trên những track này sẽ được chia thành những phần nhỏ là sector. Một sector có thể chứa ít nhất 512 bytes dữ liệu. Dữ liệu sẽ tuần tự được lưu trên những sector, nếu như một sector đã đầy dữ liệu thì đầu đọc/ghi sẽ ghi dữ liệu lên sector còn trống khác, cứ thế cho đến sector cuối cùng của 1 track. Khi hết 1 track thì đầu đọc/ghi sẽ chuyển đến sector của track trống tiếp theo. Tiếp tục như thế cho đến track cuối cùng. Khi hết track cuối cùng của một mặt đĩa thì đầu đọc/ghi sẽ chuyển đến mặt khác của đĩa.
Như thế nào là FAT, FAT16, FAT32, NTFS?
Để hiểu rõ hơn về FAT16, FAT32, NTFS thì trước tiên ta cần đặt câu hỏi FAT là gì ? FAT là được viết tắt từ 3 ký tự đầu tiên của File Allocation Table (bảng phân phối tập tin) là bảng ghi địa chỉ track và sector của từng dữ liệu trên đĩa.
FAT16 (File Allocation Table, 16-bit): hổ trợ những hệ điều hành DOS, Windows 9x/Me. Với FAT này chỉ hổ trợ những tên tập tin có độ dài là 11 ký tự (8 ký tự dành cho tên tập tin và 3 ký tự dành cho phần mở rộng.) và hổ trợ những HDD hoặc những phân vùng (partition) có dung lượng tối đa là 2 GB.
FAT32 (File Allocation Table, 32-bit): hổ trợ những hệ điều hành Windows 9x/Me, Windows 2000/XP. Với FAT32 thì dung lượng của HDD hay phân vùng (partition) có dung lượng lên đến 2 terabytes.
NTFS (Windows NT File System): hổ trợ những hệ điều hành WindowsNT/2000/XP và chiều dài tên tập tin có thể là 256 ký tự. Với NTFS thì HDD hay phân vùng (partition) có dung lượng rất lớn, lên đến 16 exabytes.
11.Bo mạch chủ hoạt động như thế nào?
Bo mạch chủ đã được xem như một khái niệm mới khi máy tính cá nhân và máy tính nhỏ (Microcomputer) đang dần trở nên phổ biến. Trước khi có các mạch tích hợp, các thành phần riêng biệt của máy tính được lắp trên các bo mạch khác nhau hoặc các thành phần khác nhau được lắp trên nhiều bo mạch. Ngày nay, các thành phần ấy tập trung hoạt động trên cùng một bo mạch gọi là bo mạch chủ. Các nhà sản xuất bo mạch chủ cũng đạt được những bước tiến xa hơn trong việc tích hợp thêm nhiều bo mạch mở rộng thông dụng khác như đồ họa, âm thanh, mạng và các mạch điều khiển ổ đĩa,…
Bất kỳ một bo mạch chủ nào cũng đều được thiết kế để hỗ trợ các thành phần chính sau: bộ vi xử lý (BXL), bộ nhớ và các hệ thống vào/ra (I/O) và được chứa trong cùng một thùng máy. Hai yếu tố chính xác định một bo mạch chủ:
1/ Tốc độ và loại bộ vi xử lý.
2/ Kiến trúc Bus. Chính vì lẽ đó, bo mạch chủ đã và sẽ thay đổi tương ứng với mỗi lần nhà SX tung ra các BXL và kiến trúc Bus mới. Các BXL nhanh hơn sẽ cho tốc độ trình diễn tốt hơn bên cạnh các kiến trúc Bus mới sẽ gia tăng tốc độ truyền tải dữ liệu. Ở các máy tính cá nhân thế hệ đầu tiên, độ rộng của kiến trúc Bus là 8 bit và chỉ có thể truyền tải dữ liệu ở tốc độ 1 Mb/s nhưng kết quả của sự cải tiến và phát triển kiến trúc Bus đã cho thấy sự cải thiện tốc độ rõ rệt như tuyến ISA 16 bit cho tốc độ truyền tải lên 8 Mb/s, tuyến VESA 32 bit cung cấp tốc độ 150 Mb/s, tiếp theo là PCI 32 bit hoặc 64 bit hỗ trợ 264 Mb/s và tuyến AGP 64 bit mới hỗ trợ tốc độ truyền dữ liệu trên 528 Mb/s. Việc mở rộng kiến trúc bus kéo theo nhiều thay đổi và cải tiến nhưng luôn luôn mang tính tương thích ngược. Vì vậy một bo điều hợp được thiết kế cho các máy tính cá nhân IBM nguyên thủy vẫn có thể làm việc tốt trên các hệ thống Pentium mới. Thực chất của việc mở rộng kiến trúc bus là mở rộng tuyến nội của bộ vi xử lý và mở rộng các chip thêm vào để hỗ trợ việc truy cập bộ nhớ trực tiếp (DMA -Direct Memory Access), các ngắt (Interupts), các bộ đếm (Counters), bộ tính thời gian, các cầu nối và bộ đệm. BXL trên bo mạch chủ thế hệ mới được xem như là bộ phận quan trọng nhất và được lắp trên đế cắm (socket) thay vì hàn trực tiếp như trước đây. Các đế cắm được thiết kế cho phép cắm nhiều loại BXL có tốc độ khác nhau. Từ đó, người sử dụng có thể nâng cấp lên các BXL mạnh hơn. Khi lắp đặt BXL, bạn phải gắm nó vào đế cắm này nhưng lưu ý là lực ép cho phép rất nhỏ. BXL sẽ được khóa với một bẫy khóa, kẹp các chân của nó vào đế cắm. Ngoài ra, cũng có các bo mạch chủ cho phép lắp nhiều hơn một BXL. Thường các bo mạch chủ loại này được dùng trong các hệ thống máy tính trạm hoặc máy chủ cần đến năng lực xử lý lớn.
BXL giao tiếp với bộ nhớ hệ thống (DRAM-Dynamic Random Access Memory) qua một cầu nối. Tuy nhiên, tốc độ bộ nhớ hệ thống hiện tại vẫn chưa bắt kịp tốc độ của các BXL thế hệ mới. Trong khi đó, chiếc cầu nối lại bị ảnh hưởng đáng kể bởi thời gian trể, mạch ghép và tốc độ "làm tươi" của DRAM. Có một loại bộ nhớ nhỏ hơn gọi là bộ nhớ đệm (cache) được đặt giữa BXL và DRAM. Bộ nhớ đệm có tốc độ nhanh hơn rất nhiều so với bộ nhớ DRAM và trên các BXL thế hệ mới nó được đặt trên cùng một "bánh" silicon với BXL và có cùng tốc độ với tốc độ của BXL. Bộ nhớ đệm truyền thống được thiết kế sử dụng loại RAM tĩnh, được lắp trên các khối nhỏ và được quản lý bởi mạch điều khiển cache. Mạch điều khiển DRAM trên các bo mạch thế hệ mới nằm trên cùng một chip như mạch điều khiển cache. Mạch điều khiển cache nạp dữ liệu vào SRAM từ DRAM, do đó các dữ liệu và chỉ lệnh được truyền đến BXL với tốc độ cao nhất. Tuyến nội của BXL được nối đến các tuyến PCI và ISA bằng các chip cầu nối. Chip cầu nối bus PCI thay đổi thiết kế cùng với sự thay đổi của mỗi BXL. Cầu nối ISA bao gồm tất cả các thiết kế lõi dành cho tuyến 16 bit kiểu AT của các máy tính cá nhân IBM nguyên thủy, bao gồm mạch điều khiển DMA 8237, mạch điều khiển ngắt 8259, và các chíp đếm/tính thời gian 8254. Chíp này cho phép tương thích ngược với các giao tiếp và thiết bị mở rộng loại cũ.
Dynamic Random Access Memory – Ram động
Một loại chip nhớ truy cập ngẫu nhiên ( RAM), biểu hiện các trạng thái nhớ bằng những tụ tích trữ điện tích. Vì các tụ điện này thường xuyên bị mất điện tích của mình, cho nên các chip DRAM phải được "làm tươi" lại liên tục (vì vậy gọi là "động").
Ở các máy tính cá nhân đời đầu, cổng và thiết bị điều khiển bàn phím được kết hợp trên bo mạch chủ. Trong khi các thiết kế mới hiện nay cho phép cổng nối tiếp (Serial) được tích hợp ngay trên bo mạch chủ. Bàn phím sử dụng bộ điều hợp giao tiếp nối tiếp để truyền và nhận dữ liệu 1 bit tại một thời điểm, cho đến khi một khối dữ liệu hoặc 1 lệnh được truyền đi hết. Bàn phím và mạch điều khiển là loại đẳng thời nghĩa là dữ liệu và xung đồng hồ truyền, được đồng bộ hóa trên đường xung nối tiếp và trên các cạnh của tín hiệu đồng hồ. (Thiết bị điều hợp thiết lập một bit trên đường dữ liệu nối tiếp sau đó chuyển sang đường xung đồng hồ nối tiếp trên bộ điều hợp, mỗi lần đường cổng nối tiếp chuyển trạng thái, bàn phím sẽ hồi đáp bằng cách truyền dữ liệu đến bo mạch chủ). Bàn phím AT sử dụng đầu nối DIN 5-chân. Bàn phím PS/2 sử dụng bộ điều hợp DIN mini 6-chân. Cổng PS/2 được tìm thấy trên tất cả các bo mạch chủ kiểu ATX. Chip 8042 trên bo mạch chủ hỗ trợ một thiết bị phụ thứ hai, thường dùng nhất là chuột PS/2. Các tín hiệu giao tiếp dữ liệu và xung đồng hồ nối tiếp của bàn phím nối với chip 8042 sẽ lần lượt nối với tuyến 8 bit, tuyến ISA phụ hoặc tuyến X-nối với tuyến nội bằng cách sử dụng chip cầu nối PCI đến ISA (như đã đề cập phía trên). Bộ vi điều khiển 8042 gửi và nhận các lệnh, trạng thái và dữ liệu đến BXL bằng cách sử dụng các ngắt level 1 cho bàn phím và level 12 cho chuột PS/2. Bàn phím cũng có một mạch điều khiển nối với các tín hiệu dữ liệu và đồng hồ để giao tiếp với mạch điều khiển bàn phím.
ROM BIOS (Read Only Memory Basic Input Output System) là một thiết bị chứa phần mềm để nạp hệ điều hành cơ bản đầu tiên từ thiết bị khởi động và thực hiện các bước tự kiểm tra lúc bật máy (Power on self-Tests-POST). Các BIOS mới hỗ trợ thêm các tính năng như Cắm và Chạy (Plug and Play – PnP), ACPI (Advanced Configuration Peripheral Interface, USB (Universal Serial BUS), Software Power-Off (tắt máy bằng phần mềm) và cổng AGP (Accelerated Graphics Port).
Tất cả các bo mạch chủ từ thời máy tính cá nhân IBM đầu tiên đều có một đồng hồ thời gian thực (Real Time Clock-RTC) và một chíp tính Lịch (Calendar). Thiết bị này chứa một lượng nhỏ bộ nhớ không linh động. Ngay cả khi hệ thống tắt điện, các thiết bị này vẫn tiếp tục chạy, do được nuôi từ nguồn năng lượng Pin (cũng được lắp sẵn trên bo mạch chủ). Thiết bị RTC/Calendar cung cấp dữ liệu ngày và giờ cho HĐH và có độ chính xác tương đối. Chúng chứa dữ liệu cấu hình cơ bản trong bộ nhớ không linh động.
Nhưng nếu bạn ngắt kết nối Pin hoặc xảy ra tình trạng hết Pin, các thông tin cấu hình sẽ bị mất.
Các bo mạch chủ hiện nay hỗ trợ ngay trên bo 2 cổng Enhanced ATA (IDE). Chuẩn giao tiếp ổ đĩa này đã có một vài cải tiến cho phép hỗ trợ 4 ổ đĩa vật lý và tốc độ truyền dữ liệu cũng được gia tăng một cách đáng kể. Giới hạn sức chứa của đĩa cứng cũng tăng và việc hỗ trợ ổ CD-ROM thông qua chuẩn ATAPI (AT Attached Packet Interface) cũng được thêm vào. Nhiều tốc độ và chế độ truyền dữ liệu được phát triển như chuẩn truyền dữ liệu PIO (Programmed I/O) và single word hay multiword DMA. Chuẩn single word DMA truyền 16 bit dữ liệu trên một yêu cầu truyền DMA và chuẩn Multiword DMA truyền 16 bit dữ liệu liên tục trong khi khi tín hiệu DMA bật. Trên các bo mạch chủ mới, tất cả 4 kênh IDE đều có khả năng làm chủ tuyến (Bus mastering) và có thể thiết lập nhiều tùy chọn khởi động thay vì A: C: hoặc C: A:. Cùng với việc hỗ trợ IDE (Intelligent Drive Electronics), các bo mạch chủ thế hệ mới còn bao gồm hai cổng giao tiếp nối tiếp hỗ trợ giao tiếp truyền không đồng bộ tiêu chuẩn qua cổng giao tiếp RS 232C. Qua nhiều năm, cổng giao tiếp nối tiếp của PC được nâng cấp bằng một loạt các thiết bị UART (Universal Asynchronous Receiver Transmitter). Thiết bị NS16550 mới nhất cung cấp bộ đệm FIFO 16 Byte cho việc nhận và truyền dữ liệu và nó giới hạn nhu cầu của máy tính để phục vụ cho mỗi quá trình giao dịch dữ liệu bằng cách phục vụ (các ngắt) theo khối. Thiết bị hỗ trợ tốc độ truyền dữ liệu tối đa là 115 Kb/s. Gần như mỗi PC thế hệ mới được tích hợp sẵn các bộ điều hợp và các cổng song song. Các cổng này được biết đến dưới những cái tên như Parallel, LPT, PRN, IEEE 1284 và cổng máy in song song... Máy PC nguyên thủy hỗ trợ 1 cổng máy in 8 bit có tốc độ truyền tải là 150 Kb/s. Sau khi giao tiếp được cải tiến, nó được cho phép truyền dữ liệu trực tiếp 8 bit và cho phép kết nối với các thiết bị không phải máy in. Bên cạnh đó, cổng song song cũng được cải thiện hơn nữa với các chế độ truyền tải tốc độ cao cộng thêm và tăng cường thêm giao thức ghép nối cũng như hỗ trợ các vòng lệnh, vòng dữ liệu và đánh địa chỉ cho nhiều thiết bị luận lý.
Một thiết bị khác cũng được tích hợp trên bo mạch chủ là cổng hồng ngoại (Infrared Port). Tuy nhiên, thiết bị này thường chỉ được tích hợp sẵn trên các máy tính xách tay. Và khi hoạt động, nó sẽ chiếm tài nguyên của một cổng COM.
Bộ đệm nhỏ nằm ngay trên BXL được gọi là bộ đệm L1 và bộ đệm lớn hơn ở bên ngoài gọi là bộ đệm L2. Bộ đệm L1 nhận dữ liệu từ bộ đệm L2, còn bộ đệm L2 thì nhận dữ liệu từ bộ nhớ hệ thống (DRAM). Bộ đệm L2 thông thường có kích thước là 256 Kb. Việc gia tăng kích thước bộ đệm sẽ giảm hiệu quả khi kích thước vượt quá 1 MB.
Đầu kết nối nguồn ATX trên bo mạch chủ cung cấp kết nối dạng socket cho đầu nối 20-chân từ bộ nguồn ATX và hỗ trợ chuẩn ACPI. Có nhiều kiểu kết nối và chức năng mới sẽ làm việc với bộ nguồn ATX như Software Power-Off, Modem Ring Power-On và Alarm Wake Up.
Cuối cùng là các mạch giám sát phần cứng được tích hợp sẵn trên hầu hết các bo mạch chủ thế hệ mới. Các mạch giám sát này sẽ theo dõi nhiệt độ, điện áp và tốc độ quạt của hệ thống. Thông qua các tiện ích quản lý, bạn sẽ kiểm tra được tình trạng cũng như nhận được các cảnh báo khi có sự cố xảy ra nhờ sự hoạt động của các mạch giám sát này.